Chính sách dân tộc: Từ hỗ trợ sang trao năng lực
10 giờ trước | Lượt xem: 186 In bài viết |Chừng nào chính sách dân tộc còn nặng về hỗ trợ đầu vào, dàn trải nguồn lực và đo kết quả chủ yếu bằng giải ngân, chừng đó khoảng cách phát triển vẫn khó được thu hẹp một cách bền vững.
Mọi chính sách công, suy cho cùng, đều phải trả lời một câu hỏi rất giản dị: Sau mỗi đồng ngân sách bỏ ra, năng lực phát triển của người dân đã tăng lên bao nhiêu.
Với chính sách dân tộc, câu hỏi ấy càng phải được đặt ra rốt ráo hơn, bởi đây không chỉ là câu chuyện hỗ trợ một vùng khó khăn, mà là câu chuyện bảo đảm công bằng phát triển, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và tạo nền tảng ổn định lâu dài cho đất nước.
Sau giai đoạn I (2021-2025) của Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, Việt Nam đang bước vào một bước ngoặt thể chế mới: Tích hợp 3 chương trình mục tiêu quốc gia trong giai đoạn 2026–2035. Đây là một chủ trương lớn, mở ra cơ hội giảm chồng chéo, tăng tính đồng bộ và tập trung nguồn lực. Nhưng cũng chính ở đây xuất hiện một phép thử không nhỏ: Nếu không đổi cách tiếp cận, chính sách dân tộc có thể được tích hợp về hình thức mà chưa chắc được nâng cấp về hiệu quả thực chất.
Do đó, bước vào giai đoạn tích hợp 3 chương trình mục tiêu quốc gia, yêu cầu lớn nhất là không để chính sách dân tộc bị hòa tan trong một khuôn khổ chung.
Hạ tầng đã tốt hơn nhưng chưa phải là cơ bản nhất
Theo các số liệu tổng kết ban đầu của giai đoạn 2021–2025, toàn vùng đã đầu tư 6.018 công trình giao thông nông thôn, cứng hóa 8.673 km đường giao thông, xây dựng 442 công trình điện, 1.787 nhà sinh hoạt cộng đồng, cải tạo 183 trạm y tế xã, hỗ trợ trang thiết bị cho 118 trạm y tế xã và đầu tư 629 công trình trường, lớp học.
Những con số nêu trên cho thấy nỗ lực rất lớn của Nhà nước trong việc kéo gần khoảng cách tiếp cận hạ tầng và dịch vụ cơ bản giữa vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi với các khu vực phát triển hơn.
Tuy nhiên, kết quả hạ tầng không tự động chuyển hóa thành đột phá phát triển. Khi vẫn còn những chỉ tiêu chậm đạt, vẫn còn những địa bàn khó khăn kéo dài, vẫn còn những vướng mắc về đất ở, đất sản xuất, sinh kế và chất lượng nguồn nhân lực, thì điều cần nhìn nhận thẳng thắn là mô hình can thiệp hiện hành chưa đủ mạnh để tạo ra chuyển biến bền vững. Hạ tầng là điều kiện cần, nhưng không thể là câu trả lời duy nhất.
Điểm nghẽn lớn nhất nằm ở chỗ chính sách còn nghiêng khá nhiều về bù đắp thiếu hụt trước mắt. Hỗ trợ đầu vào là cần thiết nhưng nếu kéo dài như một logic chủ đạo, nó sẽ dễ dẫn đến ba hệ quả: Nguồn lực bị chia nhỏ; người thực thi thiên về hoàn thành thủ tục hơn là tạo thay đổi; còn người thụ hưởng dễ bị đặt ở vị thế tiếp nhận thay vì trở thành chủ thể phát triển.
Khi đó, chính sách có thể làm dịu bớt khó khăn trước mắt, nhưng chưa chắc tạo ra năng lực để người dân tự đi tiếp trên một quỹ đạo phát triển dài hạn.
Vì sao phải chuyển từ hỗ trợ sang tạo năng lực phát triển?
Câu trả lời nằm ở chính yêu cầu phát triển của vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trong giai đoạn mới. Khoảng cách phát triển hiện nay không còn chỉ đo bằng chuyện thiếu một con đường, một công trình điện hay một điểm trường. Khoảng cách ấy ngày càng được quyết định bởi chất lượng nguồn nhân lực, khả năng tham gia thị trường, năng lực số, trình độ tổ chức sản xuất, khả năng tiếp cận tín dụng, chất lượng dịch vụ y tế - giáo dục và sức chống chịu trước rủi ro khí hậu, thiên tai, dịch bệnh.
Nói cách khác, nếu chính sách chỉ dừng ở cấp phát đầu vào, vùng khó khăn sẽ tiếp tục được hỗ trợ nhưng khó thoát khỏi vòng lặp tụt hậu. Ngược lại, nếu chính sách hướng vào phát triển con người và bồi đắp năng lực nội sinh, hiệu quả sẽ bền vững hơn nhiều.
Một em học sinh học tiếp được lên cao hơn, một lao động được đào tạo nghề gắn với nhu cầu thị trường, một hộ gia đình được hỗ trợ sản xuất gắn với tín dụng, kỹ thuật và đầu ra, hay một cộng đồng có thêm năng lực tổ chức hợp tác xã, thương mại điện tử, du lịch cộng đồng… tất cả những điều đó mới thực sự là nền móng của phát triển dài hạn.
Chuyển từ hỗ trợ sang tạo năng lực phát triển, vì thế, không chỉ là một điều chỉnh kỹ thuật của chính sách công. Đó là sự chuyển đổi trong tư duy phát triển: Từ chỗ xử lý cái thiếu trước mắt sang tạo khả năng vươn lên lâu dài; từ chỗ coi người dân là đối tượng thụ hưởng sang coi người dân là chủ thể phát triển; từ chỗ nặng về quản lý đầu vào sang chú trọng kết quả cuối cùng mà chính sách mang lại cho đời sống.
Tích hợp 3 chương trình: Cơ hội lớn nhưng phép thử cũng lớn
Việc tích hợp 3 chương trình mục tiêu quốc gia thành một chương trình thống nhất cho giai đoạn 2026–2035 là bước đi đúng về mặt tổ chức. Một chương trình tích hợp tốt sẽ giảm phân tán nguồn lực, giảm chồng chéo thể chế, tạo điều kiện để địa phương triển khai đồng bộ hơn giữa phát triển hạ tầng, giảm nghèo và xây dựng nông thôn mới.
Nhưng chính trong mô hình tích hợp này lại xuất hiện một nguy cơ rất rõ: Tính đặc thù của chính sách dân tộc có thể bị làm mờ. Bởi lẽ, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi không chỉ là một địa bàn khó khăn về thu nhập. Đây còn là không gian phát triển có những đặc thù rất riêng về dân cư, địa hình, văn hóa, khả năng tiếp cận dịch vụ, điều kiện sản xuất và chi phí cung ứng dịch vụ công. Nếu không có một hợp phần đủ rõ, một bộ tiêu chí đủ riêng và một cơ chế phân bổ đủ trúng, chính sách dân tộc rất dễ bị “hòa tan” trong mặt bằng ưu tiên chung.
Thách thức còn nằm ở kỹ thuật thể chế. Ba chương trình hiện nay đang vận hành theo ba logic khác nhau: Nông thôn mới dựa vào bộ tiêu chí chuẩn hóa; giảm nghèo bền vững gắn với chuẩn nghèo đa chiều; còn chính sách dân tộc lại gắn với phân định vùng, nhóm dân tộc, thôn, xã và mức độ thiếu hụt rất đặc thù. Hợp nhất ba logic ấy thành một cơ chế vận hành thống nhất không hề đơn giản. Nếu làm vội, nguy cơ lớn nhất là bộ máy phải gánh thêm thủ tục, trong khi hiệu quả thực địa không tăng tương ứng.
Điều cần giữ trong chương trình tích hợp
Điều cần giữ lại đầu tiên là vị trí đủ rõ của hợp phần dành cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Tích hợp để tăng đồng bộ chứ không phải để làm mờ đặc thù. Vùng lõi nghèo, vùng biên giới, khu vực III, thôn đặc biệt khó khăn và những nhóm dân tộc còn gặp nhiều khó khăn phải tiếp tục là trọng tâm ưu tiên trong phân bổ nguồn lực.
Điều thứ hai là phải chuyển mạnh sang quản trị theo kết quả. Một chính sách tốt không thể chỉ được đo bằng số vốn giao, tỷ lệ giải ngân hay số công trình hoàn thành. Cần đo bằng những biến chuyển cụ thể hơn: thu nhập của hộ dân thay đổi ra sao; tỷ lệ lao động có việc làm bền vững tăng thế nào; trẻ em học tiếp lên các bậc học cao hơn đến đâu; khả năng tiếp cận nước sạch, y tế, dịch vụ số được cải thiện thế nào; mức độ hài lòng của người dân có chuyển biến không.
Điều thứ ba là xây dựng được nền tảng dữ liệu liên thông đủ mạnh. Khi dữ liệu về hộ nghèo, địa bàn dân tộc thiểu số và miền núi, tiếp cận đất đai, giáo dục, y tế, nước sạch, tín dụng và việc làm còn phân tán, chính sách rất khó nhắm đúng đối tượng và cũng khó đánh giá chính xác tác động. Muốn quản trị hiện đại, chính sách dân tộc phải được điều hành bằng dữ liệu, không thể chỉ bằng hồ sơ và báo cáo hành chính.
Đo chính sách bằng thay đổi thật trong đời sống
Sâu xa hơn, đổi mới cách tiếp cận chính sách dân tộc là đổi mới thước đo thành công của Nhà nước ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Thành công không chỉ là đã đầu tư bao nhiêu, đã ban hành bao nhiêu văn bản, đã tổ chức bao nhiêu cuộc họp. Thành công phải được nhìn thấy trong đời sống: Người dân có thêm cơ hội học tập, làm việc, sản xuất, kết nối thị trường và nâng chất lượng sống hay không.
Một chính sách dân tộc hiện đại phải hướng tới “trao năng lực”. Đó có thể là tín dụng chính sách đi kèm tư vấn sử dụng vốn; là đào tạo nghề gắn với nhu cầu của doanh nghiệp và thị trường lao động; là hỗ trợ sản xuất đi cùng chuyển giao kỹ thuật, logistics, chế biến và đầu ra; là đầu tư vào năng lực số để người dân và cộng đồng không bị đứng ngoài nền kinh tế mới; là tăng cường năng lực cán bộ cơ sở để địa phương không bị hụt hơi trong khâu tổ chức thực hiện.
Khi người dân có thêm năng lực để tự phát triển, chính sách không chỉ tạo ra hiệu quả kinh tế - xã hội mà còn tạo ra hiệu quả chính trị rất sâu sắc. Đó là giảm tâm lý trông chờ, tăng tính chủ động, củng cố niềm tin vào hiệu quả thực chất của chính sách công và làm vững hơn nền tảng đoàn kết dân tộc trong một giai đoạn phát triển mới.
Giai đoạn 2026–2030 vì vậy không nên chỉ được hiểu là chặng tiếp theo của đầu tư công ở vùng khó khăn. Đây phải là giai đoạn tái định nghĩa cách Nhà nước đồng hành cùng vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi: Không chỉ hỗ trợ để vượt qua thiếu hụt trước mắt, mà phải tạo năng lực để vươn lên bền vững.
Khi đó, chính sách dân tộc mới thực sự trở thành một động lực phát triển, thay vì chỉ là một cơ chế trợ giúp, hỗ trợ.
TS. Hà Việt Quân

